Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Thoái hóa cột sống cổ

Thoái hoá cột sống cổ là một bệnh thường gặp ở người trung, cao tuổi. Tổn thương thoái hoá của sụn khớp gây ra do quá trình sinh tổng hợp chất cơ bản (proteglycan) bởi các tế bào sụn có sự bất thường. Đặc trưng của bệnh là quá trình mất sụn khớp của lớp tế bào dưới sụn; tổ chức xương cạnh khớp được tạo mới. Ở thoái hoá cột sống, có sự kết hợp giữa hai loại tổn thương mang tính định khu đó là thoái hoá đĩa đệm và thoái hoá mỏm liên sau.

Bệnh thường kèm theo các hội chứng ép rễ tại vùng cột sống, do tuỷ sống nằm trong ống sống quá hẹp. Nguyên nhân hẹp ống sống thường gặp nhất là do thoái hóa cột sống, với các gai xương làm cho khẩu kính của ống sống giảm đi. Thoát vị đĩa đệm làm tăng thêm bệnh cảnh lâm sàng của thoái hoá cột sống.

Trên lâm sàng các hội chứng thường phong phú, trong đó bao gồm hội chứng rễ chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 72%, sau đó đến hội chứng thiểu năng tuần hoàn sống - nền, hội chứng cột sống cổ đơn thuần (đau tại cột sống cổ, kiểu cơ học kéo dài), ngoài ra, có thể gặp triệu chứng đau ngực:

- Triệu chứng đau rễ thần kinh cổ cánh tay: Gặp trên 70% bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ có thoát vị đĩa đệm, tổn thương chủ yếu ở các đốt từ C5 đến C7, đau thường xuyên xuất hiện từ từ, lan dần từ cổ xuống vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay, tê bì các ngón 4,5. Đau 1 bên, ở một vị trí cố định, ngoài ra bệnh nhân còn có cảm giác đau ngoài da vùng thoát vị đĩa đệm, biểu hiện rối loạn vận mạch, rối loạn dinh dưỡng như toát mồ hôi, nôn nao, chóng mặt, teo cơ các vùng chi bị chi phối bởi các nhánh thần kinh ở vị trí tổn thương của cột sống như teo cơ ô mô cái, rối loạn phản xạ cơ tam đầu, gân cơ nhị đầu…

Biểu hiện thoái hóa cột sống thường gặp

Căn bệnh thoái hóa cột sống thường được phát hiện khi các biểu hiện bệnh lý đã trở nên nặng nề làm ảnh hưởng mạnh tới đời sống của người bệnh. Nhiều bệnh nhân phát hiện tình trạng thoái hóa cột sống khi các biểu hiện lâm sàng đã ở mức độ nặng: Đau mỏi bả vai, tê bì cánh tay, đau kéo lên đầu làm cản trở quá trình sinh hoạt động của người bệnh.

Đặc trưng cơ bản của thoái hoá khớp là tổn thương thoái hoá của sụn khớp, hậu quả là mất sụn khớp và tế bào dưới sụn, mọc tổ chức xương cạnh khớp tân tạo. Một trong những vị trí hay gặp của thoái hoá khớp là thoái hoá cột sống, bao gồm cột sống thắt lưng (hay gặp nhất), cột sống lưng và cột sống cổ. Với thoái hoá cột sống, quá trình lão hoá thường xảy ra ở hai vị trí: đĩa đệm (nằm ở giữa hai đốt sống) và các khớp liên mấu đốt sống.

Thoái hóa cột sống
Thoái hoá nói chung và thoái hoá cột sống nói riêng có hai loại: thoái hoá nguyên phát (do tuổi tác cao, không có nguyên nhân) và thứ phát (có thể gặp cả ở người trẻ, thường tìm thấy nguyên nhân). Thoái hoá thứ phát ở cột sống thường gặp sau chấn thương, rối loạn cấu trúc đĩa đệm đốt sống bẩm sinh (ví dụ bệnh Scheuermann, loạn sản đốt sống- mấu đốt sống), mắc phải (viêm đĩa đệm đốt sống) hay các nguyên nhân khác gây sai lệch tư thế cột sống: gù, vẹo, quá ưỡn…

Về điều trị, tùy theo tình trạng bệnh mà có các biện pháp nghỉ ngơi, nằm ở tư thế thích hợp giảm đau. Các biện pháp không dùng thuốc có thể làm giảm đau và giảm co cứng cơ như các bài tập thể dục thích hợp; điều trị vật lý trị liệu như tia hồng ngoại, sóng ngắn, tắm bùn nóng, tắm suối khoáng nóng; mát-xa, bấm huyệt tại vùng đau. Thuốc chống viêm giảm đau không steroid như diclofenac, meloxicam, piroxicam… kết hợp với thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal, thuốc giảm đau đơn thuần paracetamol… dùng ngắn ngày, trong đợt cấp khi bệnh nhân đau nhiều. Các thuốc điều trị thoái hoá cột sống tác dụng chậm, ít ảnh hưởng đến dạ dày như glucosamin, chondroitin, diacerin… có thể dùng kéo dài. Nếu không đỡ có thể tiêm corticoid loại nhũ dịch tại các khớp liên mấu sau hoặc tiêm ngoài màng cứng nhưng cần có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp trong điều kiện vô khuẩn tuyệt đối với liệu trình thích hợp, tránh lạm dụng. Mặc áo nẹp cột sống cổ hoặc cột sống thắt lưng trong các trường hợp thoái hoá kết hợp trượt đốt sống gây mất vững cột sống. Chỉ định ngoại khoa trong các trường hợp thoát vị đĩa đệm, không đáp ứng với điều trị nội khoa đúng cách hoặc khi có chèn ép thần kinh vùng cột sống thắt lưng gây liệt hai chi dưới, rối loạn cơ tròn hay liệt chi trên do chèn ép cột sống cổ.